UNICAP

Cách kêu gọi nhà đầu tư: ba hình thức chào bán, mốc 10 ngày và chứng từ bắt buộc

Kêu gọi nhà đầu tư: việc pháp lý nằm ở ba câu hỏi

Gọi vốn thường được nói tới như chuyện thuyết trình và định giá. Nhưng phần dễ hỏng lại nằm ở ba câu hỏi pháp lý rất khô: nhà đầu tư sẽ vào bằng con đường nào, trình tự nào phải giữ, và lấy gì chứng minh tiền đã thực sự vào công ty. Bài này đi lần lượt ba câu hỏi đó theo Luật Doanh nghiệp 59/2020/QH14 (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật 76/2025/QH15, hiệu lực từ ngày 01/7/2025) và Nghị định 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp, hiệu lực từ ngày 01/7/2025, thay thế Nghị định 01/2021/NĐ-CP.

Công ty cổ phần: ba hình thức chào bán

Khoản 1 Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2020 định nghĩa chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần, loại cổ phần được quyền chào bán để tăng vốn điều lệ. Khoản 2 liệt kê ba hình thức: chào bán cho cổ đông hiện hữu; chào bán riêng lẻ; chào bán ra công chúng. Khoản 3 nói rõ chào bán ra công chúng và chào bán của công ty đại chúng thực hiện theo pháp luật về chứng khoán, không theo Luật Doanh nghiệp.

Với doanh nghiệp chưa đại chúng, hai con đường thực tế là chào bán cho cổ đông hiện hữu và chào bán riêng lẻ.

Chào bán cho cổ đông hiện hữu

Điều 124 mô tả đây là trường hợp công ty tăng thêm số cổ phần được quyền chào bán và bán toàn bộ cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ sở hữu hiện có. Trình tự có ba mốc đáng nhớ:

  • Điểm a khoản 2: công ty phải thông báo bằng văn bản đến cổ đông, theo phương thức bảo đảm đến được địa chỉ liên lạc trong sổ đăng ký cổ đông, chậm nhất là 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn đăng ký mua.
  • Điểm b và c khoản 2: cổ đông không đăng ký mua đúng hạn coi như không nhận quyền ưu tiên; cổ đông có quyền chuyển quyền ưu tiên mua cho người khác.
  • Khoản 3: phần không ai đăng ký mua hết thì Hội đồng quản trị được bán cho cổ đông khác và người khác, nhưng với điều kiện không thuận lợi hơn so với điều kiện đã chào cho cổ đông, trừ khi Đại hội đồng cổ đông chấp thuận khác hoặc pháp luật chứng khoán quy định khác.

Khoản 4 Điều 124 là điều khoản quan trọng nhất với nhà đầu tư mới: cổ phần chỉ được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và thông tin người mua theo khoản 2 Điều 122 được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó người mua mới trở thành cổ đông. Khoản 5 bổ sung rằng sau khi thanh toán đủ, công ty phát hành và giao cổ phiếu; nếu không giao cổ phiếu thì việc ghi sổ đăng ký cổ đông là cái chứng thực quyền sở hữu.

Chào bán riêng lẻ

Khoản 1 Điều 125 đặt hai điều kiện cho công ty cổ phần không phải công ty đại chúng: không chào bán thông qua phương tiện thông tin đại chúng; và chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, hoặc chỉ chào bán cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp.

Điểm hay bị bỏ qua nằm ở điểm b khoản 2 Điều 125: ngay cả khi chào bán riêng lẻ, cổ đông hiện hữu vẫn được thực hiện quyền ưu tiên mua theo khoản 2 Điều 124, trừ trường hợp sáp nhập, hợp nhất công ty. Nghĩa là không thể gọi nhà đầu tư ngoài vào mà bỏ qua cổ đông đang có, trừ hai ngoại lệ đó. Điểm c khoản 2 cho phép bán phần còn lại cho người khác, vẫn với điều kiện không thuận lợi hơn.

Giá bán

Điều 126 trao cho Hội đồng quản trị quyền quyết định thời điểm, phương thức và giá bán cổ phần, nhưng đặt một giới hạn: giá bán không được thấp hơn giá thị trường tại thời điểm bán hoặc giá trị ghi trong sổ sách của cổ phần tại thời điểm gần nhất. Bốn ngoại lệ được liệt kê ngay trong điều này, gồm cổ phần bán lần đầu cho người không phải cổ đông sáng lập; cổ phần bán cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ sở hữu; cổ phần bán cho người môi giới hoặc bảo lãnh với mức chiết khấu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, trừ khi Điều lệ quy định khác; và các trường hợp khác do Điều lệ hoặc nghị quyết Đại hội đồng cổ đông quy định.

Công ty TNHH hai thành viên trở lên: hai cách đưa vốn mới vào

Khoản 1 Điều 68 chỉ cho phép hai trường hợp tăng vốn điều lệ: tăng vốn góp của thành viên, hoặc tiếp nhận thêm vốn góp của thành viên mới. Nhà đầu tư bên ngoài đi theo trường hợp thứ hai.

Khoản 2 Điều 68 quy định khi tăng vốn góp của thành viên thì phần vốn góp thêm được chia cho các thành viên theo tỷ lệ tương ứng; thành viên có thể chuyển nhượng quyền góp vốn của mình cho người khác theo Điều 52; nếu có thành viên không góp hoặc chỉ góp một phần thì số còn lại được chia cho các thành viên khác theo tỷ lệ, nếu không có thỏa thuận khác.

Nếu nhà đầu tư vào bằng cách nhận chuyển nhượng phần vốn góp từ một thành viên hiện hữu thay vì góp vốn mới, thì phải đi qua điểm a khoản 1 Điều 52 (bản sửa đổi theo khoản 15 Điều 1 Luật 76/2025/QH15): chào bán phần vốn góp đó cho thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng, với cùng điều kiện chào bán; chỉ khi họ không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày chào bán thì mới được chuyển ra ngoài, theo điểm b khoản 1. Và theo khoản 2 Điều 52, thành viên chuyển nhượng vẫn giữ quyền và nghĩa vụ với công ty cho tới khi thông tin người mua được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên.

Khi nhà đầu tư muốn cho vay thay vì mua phần sở hữu

Không phải nhà đầu tư nào cũng muốn vào vốn chủ. Kênh nợ phổ biến ở doanh nghiệp chưa niêm yết là trái phiếu riêng lẻ, theo Nghị định 153/2020/NĐ-CP. Khoản 1 Điều 9 Nghị định này đặt các điều kiện với trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền, trong đó có: doanh nghiệp là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; đã thanh toán đủ gốc và lãi trái phiếu đã phát hành hoặc các khoản nợ đến hạn trong 03 năm liên tiếp trước đợt phát hành, nếu có; đáp ứng tỷ lệ an toàn tài chính theo pháp luật chuyên ngành; có phương án phát hành được phê duyệt và chấp thuận; và có báo cáo tài chính năm liền kề trước năm phát hành được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện.

Với trái phiếu chuyển đổi hoặc kèm chứng quyền, khoản 3 Điều 9 đòi thêm: doanh nghiệp phát hành phải là công ty cổ phần, và các đợt chào bán phải cách nhau ít nhất 06 tháng kể từ ngày hoàn thành đợt gần nhất.

Sau khi tiền vào: mốc 10 ngày và bộ hồ sơ

Khoản 4 Điều 123 buộc công ty cổ phần đăng ký thay đổi vốn điều lệ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt bán cổ phần. Với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, khoản 4 Điều 68 cũng đặt mốc 10 ngày, tính từ ngày việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ đã được thanh toán xong.

Khoản 1 Điều 44 Nghị định 168/2025/NĐ-CP liệt kê hồ sơ đăng ký thay đổi vốn điều lệ. Hai giấy tờ đáng chú ý nhất với một thương vụ gọi vốn:

  • Điểm d: bản chính hoặc bản sao giấy tờ chứng minh việc góp vốn, mua cổ phần đã được thanh toán tương ứng với phần vốn điều lệ đăng ký tăng.
  • Điểm đ: bản sao văn bản của Cơ quan đăng ký đầu tư chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài hoặc tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, với trường hợp phải làm thủ tục này theo Luật Đầu tư.

Điểm đ là lý do một vòng gọi vốn có nhà đầu tư nước ngoài phải tính thêm thời gian cho bước đăng ký góp vốn, mua cổ phần trước khi làm hồ sơ thay đổi vốn.

Kỷ luật góp vốn: cam kết không thay được tiền

Khoản 2 Điều 47 cho thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp để góp đủ và đúng loại tài sản đã cam kết, không kể thời gian vận chuyển, nhập khẩu, làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Khoản 3 xử lý phần thiếu: người chưa góp đương nhiên không còn là thành viên; người góp thiếu chỉ có quyền tương ứng phần đã góp; phần chưa góp được chào bán theo nghị quyết Hội đồng thành viên. Khoản 4 buộc công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và tỷ lệ phần vốn góp bằng số vốn đã góp trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày cuối cùng phải góp đủ, đồng thời giữ trách nhiệm của người cam kết tương ứng với tỷ lệ phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ phát sinh trước ngày đăng ký thay đổi.

Ghi vốn lớn hơn số thực góp để đẹp hồ sơ gọi vốn là việc bị cấm. Khoản 5 Điều 16 Luật Doanh nghiệp 2020 cấm kê khai khống vốn điều lệ. Điều 47 Nghị định 122/2021/NĐ-CP đặt năm bậc phạt theo quy mô vốn khống, từ 20.000.000 đến 30.000.000 đồng với vốn khống dưới 10 tỷ đồng, lên tới 80.000.000 đến 100.000.000 đồng với vốn khống từ 100 tỷ đồng trở lên; khoản 6 Điều này buộc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng với số vốn thực góp.

Hai vụ việc cho thấy chỗ dễ vỡ

Hai vụ dưới đây là tình tiết và kết quả của từng vụ cụ thể, không phải quy tắc pháp luật chung.

Phiếu thu không thay được dòng tiền. Bản án số 03/2025/KDTM-PT ngày 25/8/2025 của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội xử tranh chấp về 33.193 cổ phần tương ứng 3.319.300.000 đồng, được thể hiện trên ba phiếu thu thiếu chữ ký của kế toán và thủ quỹ. Tòa xác định tiền chưa từng vào quỹ công ty và tuyên số cổ phần đó không phải là cổ phần của công ty, đồng thời ghi nhận công ty có quyền và nghĩa vụ điều chỉnh vốn điều lệ.

Đứng tên giùm là một rủi ro thật. Quyết định giám đốc thẩm số 12/2022/KDTM-GĐT ngày 12/12/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao liên quan một công ty trách nhiệm hữu hạn vốn điều lệ 8,8 tỷ đồng với năm thành viên sáng lập; bên nhận chuyển nhượng phần vốn góp chỉ đứng tên giùm và chưa thanh toán. Tòa sơ thẩm và phúc thẩm tuyên giao dịch vô hiệu, Hội đồng Thẩm phán nhận định hướng đó có căn cứ, nhưng vẫn hủy cả hai bản án vì không thụ lý yêu cầu phản tố theo Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và không giải quyết hậu quả của giao dịch vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật Dân sự 2015.

Điểm chung của hai vụ: thứ quyết định không phải tờ giấy, mà là tiền đã chuyển và việc ghi sổ đúng.

Chốt lại

Một vòng gọi vốn gọn gàng thường có đủ sáu thứ: nghị quyết đúng thẩm quyền về phương án chào bán; bằng chứng đã chào quyền ưu tiên cho cổ đông hoặc thành viên hiện hữu; giá bán nằm trong giới hạn Điều 126 hoặc rơi đúng một ngoại lệ; chứng từ thanh toán thật; sổ đăng ký cổ đông hoặc sổ đăng ký thành viên được ghi ngay; và hồ sơ đăng ký thay đổi vốn nộp trong 10 ngày. Thiếu chứng từ thanh toán hoặc thiếu bước ghi sổ là hai lỗ hổng mà tranh chấp sau này hay chui qua.

Tác giả

Nguyễn Như Hải

Capital structuring · fundraising · investment contracts · transaction legal

← Bài mới hơn 🏠 Trang chủ Bài cũ hơn →