Mua bán cổ phần doanh nghiệp: hạn chế chuyển nhượng và thời điểm trở thành cổ đông
Đăng ký xong không có nghĩa là giao dịch đã xong
Tại Quyết định giám đốc thẩm số 12/2022/KDTM-GĐT ngày 12/12/2022, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xem xét một tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Quảng H.
Tình tiết: công ty có vốn điều lệ 8.800.000.000 đồng với 5 thành viên sáng lập. Ngày 25/3/2007, cả 5 thành viên ký biên bản thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ vốn điều lệ cho bà H1 và bà L1. Cùng ngày, giám đốc công ty thông báo thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh từ 5 thành viên sang 2 thành viên, và ngày 12/4/2007 công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thay đổi lần thứ 9.
Thủ tục đăng ký đã hoàn tất. Nhưng tại các biên bản hòa giải, chính bà H1 và bà L1 xác nhận họ chỉ đứng tên giùm một người khác, và chưa thanh toán tiền chuyển nhượng. Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp vô hiệu, và Hội đồng Thẩm phán nhận định việc tuyên vô hiệu đó là có căn cứ.
Tuy nhiên Hội đồng Thẩm phán vẫn hủy cả bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại từ sơ thẩm, vì hai lý do tố tụng và nội dung: cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn, trái quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; và khi tuyên giao dịch vô hiệu, Tòa án đã không xem xét giải quyết hậu quả pháp lý của giao dịch vô hiệu theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Đây là phán quyết của một vụ việc cụ thể, không phải quy tắc áp dụng cho mọi trường hợp. Nhưng tình tiết của nó minh họa đúng một điều: giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đã đổi tên chủ sở hữu không chứng minh rằng hợp đồng chuyển nhượng hợp lệ và đã được thanh toán. Mười lăm năm sau, giao dịch vẫn bị đưa ra tòa.
Cổ phần được tự do chuyển nhượng — trừ hai ngoại lệ
Khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 đặt nguyên tắc: "Cổ phần được tự do chuyển nhượng, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 120 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần."
Cùng khoản 1 thêm một điều kiện mà nhiều Điều lệ bỏ qua: "Trường hợp Điều lệ công ty có quy định hạn chế về chuyển nhượng cổ phần thì các quy định này chỉ có hiệu lực khi được nêu rõ trong cổ phiếu của cổ phần tương ứng." Hạn chế ghi trong Điều lệ nhưng không ghi trên cổ phiếu thì không ràng buộc được bên nhận chuyển nhượng.
Ngoại lệ thứ nhất — cổ đông sáng lập trong 03 năm đầu. Khoản 3 Điều 120: trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác, và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải cổ đông sáng lập nếu được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận. Trong trường hợp đó, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần của chính mình.
Khoản 4 Điều 120 giới hạn phạm vi hạn chế này: không áp dụng với cổ phần mà cổ đông sáng lập có thêm sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp, và không áp dụng với cổ phần đã được chuyển nhượng cho người khác không phải cổ đông sáng lập.
Nhắc thêm khoản 2 Điều 120: các cổ đông sáng lập phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán khi đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Hình thức chuyển nhượng và thời điểm trở thành cổ đông
Khoản 2 Điều 127: việc chuyển nhượng được thực hiện bằng hợp đồng hoặc giao dịch trên thị trường chứng khoán. Chuyển nhượng bằng hợp đồng thì giấy tờ chuyển nhượng phải được bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng, hoặc người đại diện theo ủy quyền của họ, ký.
Khoản 6 Điều 127 là điều khoản quyết định: cá nhân, tổ chức nhận cổ phần "chỉ trở thành cổ đông công ty từ thời điểm các thông tin của họ quy định tại khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông".
Không phải từ ngày ký hợp đồng, không phải từ ngày chuyển tiền. Từ ngày ghi sổ. Khoản 7 Điều 127 đặt thời hạn cho công ty: phải đăng ký thay đổi cổ đông trong sổ đăng ký cổ đông theo yêu cầu của cổ đông có liên quan trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu.
Khoản 5 Điều 127 mở rộng các cách chuyển dịch khác: cổ đông có quyền tặng cho một phần hoặc toàn bộ cổ phần cho cá nhân, tổ chức khác; sử dụng cổ phần để trả nợ. Người được tặng cho hoặc nhận trả nợ bằng cổ phần sẽ trở thành cổ đông của công ty. Khoản 3 xử lý trường hợp cổ đông cá nhân chết: người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật trở thành cổ đông.
Phân biệt: mua cổ phần từ cổ đông và mua cổ phần do công ty bán
Hai giao dịch khác nhau, hay bị gộp làm một.
Mua từ cổ đông hiện hữu — tiền chảy vào túi cổ đông bán, vốn điều lệ của công ty không đổi, chỉ đổi tên chủ sở hữu trong sổ đăng ký cổ đông. Đây là giao dịch theo Điều 127.
Mua cổ phần do công ty phát hành thêm — tiền chảy vào công ty, vốn điều lệ tăng. Đây là chào bán cổ phần theo Điều 123–125, xem tăng vốn điều lệ công ty cổ phần.
Với số cổ phần chưa bán của công ty, Điều 126 giao Hội đồng quản trị quyết định thời điểm, phương thức và giá bán cổ phần.
Bên mua muốn bơm tiền vào doanh nghiệp để doanh nghiệp phát triển thì phải đi đường thứ hai. Mua lại cổ phần của cổ đông cũ không đưa thêm một đồng nào vào công ty.
Bốn việc phải làm trước khi ký
Kiểm cổ phần có bị hạn chế chuyển nhượng không. Đọc khoản 3 Điều 120 nếu bên bán là cổ đông sáng lập và công ty chưa đủ 3 năm; đọc Điều lệ; và kiểm xem hạn chế trong Điều lệ có được ghi trên cổ phiếu hay không.
Đối chiếu sổ đăng ký cổ đông với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Lệch nhau là dấu hiệu lịch sử góp vốn có vấn đề — xem tăng khống vốn điều lệ.
Thanh toán và ghi sổ phải đi liền nhau. Vụ Công ty Quảng H cho thấy hồ sơ đăng ký đã hoàn tất nhưng tiền chưa trả thì giao dịch vẫn có thể bị tuyên vô hiệu.
Định giá trước khi chốt giá. Xem định giá doanh nghiệp và toàn cảnh giao dịch tại mua bán doanh nghiệp.
Đọc tiếp trong cùng chủ đề
Dịch vụ liên quan: Tư vấn mua bán sáp nhập doanh nghiệp — Dịch vụ định giá doanh nghiệp — về đội ngũ — liên hệ