Phương án tăng vốn điều lệ: các hình thức, hồ sơ đăng ký và điều kiện pháp lý
Một phương án tăng vốn sai, mười ba năm sau mất 3,3 tỷ đồng cổ phần
Năm 2011, Hội đồng quản trị một công ty cổ phần ở Lạng Sơn — bản án gọi là Công ty cổ phần T3, vốn được cổ phần hóa từ doanh nghiệp nhà nước — họp và thống nhất tăng vốn điều lệ từ 1,2 tỷ đồng lên 6 tỷ đồng. Hình thức tăng được đăng ký là chào bán cổ phần cho cổ đông hiện hữu, số cổ phần chào bán tương ứng 4,8 tỷ đồng. Trên thực tế công ty chỉ bán được 4,135 tỷ đồng, tức 41.350 cổ phần. Trong số đó, sổ sách ghi nhận ông Nguyễn Văn C — khi ấy là Chủ tịch Hội đồng quản trị — mua 33.193 cổ phần, tương đương 3.319.300.000 đồng, thể hiện qua ba phiếu thu lập các năm 2010, 2013 và 2014.
Vấn đề nằm ở ba phiếu thu đó. Người ký thu là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị, không đi làm tại công ty, không có quyết định phân công làm kế toán, và khai rằng chỉ ký theo nhờ vả của ông C "để tăng vốn điều lệ". Cả ba phiếu thu đều thiếu chữ ký kế toán và thủ quỹ. Bản thân ông C thừa nhận toàn bộ số tiền ghi trên phiếu thu chưa từng được nộp vào quỹ công ty — đây là cách hợp thức hóa các khoản công ty đang nợ ông thành cổ phần đứng tên ông.
Ngày 25/8/2025, tại Bản án kinh doanh thương mại phúc thẩm số 03/2025/KDTM-PT, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội tuyên bố 33.193 cổ phần nói trên không phải là cổ phần của Công ty cổ phần T3, và công ty có quyền, nghĩa vụ điều chỉnh lại vốn điều lệ theo quy định pháp luật. Kháng cáo của ông C không được chấp nhận. Căn cứ mà Hội đồng xét xử viện dẫn gồm Điều 16, Điều 112, Điều 113, Điều 119 Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Điều 19, Điều 20, Điều 51 Luật Kế toán năm 2003.
Nói gọn: một phương án tăng vốn điều lệ được lập cho có, không đi kèm dòng tiền thật, có thể đứng yên suốt mười ba năm rồi sụp đổ toàn bộ khi bị đưa ra tòa. Bài viết này phân tích phương án tăng vốn điều lệ cần có những gì để không rơi vào tình cảnh đó.
Phương án tăng vốn điều lệ là gì
Phương án tăng vốn điều lệ là tài liệu nội bộ do cơ quan có thẩm quyền của công ty thông qua, xác định rõ bốn nội dung: tăng bao nhiêu, tăng bằng hình thức nào, nguồn tiền hoặc tài sản ở đâu ra, và lộ trình thanh toán — đăng ký thay đổi ra sao. Luật Doanh nghiệp không dùng thuật ngữ "phương án tăng vốn điều lệ" như một chế định riêng cho mọi loại hình, nhưng với công ty cổ phần thì chào bán cổ phần riêng lẻ bắt buộc phải có phương án: điểm a khoản 2 Điều 125 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định "Công ty quyết định phương án chào bán cổ phần riêng lẻ theo quy định của Luật này".
Hiểu đơn giản, phương án là thứ trả lời câu hỏi của cơ quan đăng ký kinh doanh và của tòa án sau này: số vốn tăng thêm đến từ đâu, ai nộp, nộp lúc nào, và chứng từ nào chứng minh.
Các phương án tăng vốn của công ty cổ phần
Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2020 nêu rõ bản chất: "Chào bán cổ phần là việc công ty tăng thêm số lượng cổ phần, loại cổ phần được quyền chào bán để tăng vốn điều lệ". Khoản 2 Điều này liệt kê ba hình thức chào bán: cho cổ đông hiện hữu, chào bán riêng lẻ, và chào bán ra công chúng.
Chào bán cho cổ đông hiện hữu. Đây là hình thức Công ty cổ phần T3 đã đăng ký. Điều 124 định nghĩa là công ty tăng thêm số lượng cổ phần được quyền chào bán và bán toàn bộ số đó cho tất cả cổ đông theo tỷ lệ sở hữu hiện có. Khoản 2 Điều 124 buộc công ty thông báo bằng văn bản tới cổ đông chậm nhất 15 ngày trước ngày kết thúc thời hạn đăng ký mua, kèm mẫu phiếu đăng ký mua cổ phần. Cổ đông không gửi phiếu về đúng hạn thì coi như không nhận quyền ưu tiên mua. Nếu cổ đông không mua hết, khoản 3 cho phép Hội đồng quản trị bán phần còn lại cho người khác, nhưng với điều kiện không thuận lợi hơn điều kiện đã chào cho cổ đông.
Nói theo lời thường: muốn tăng vốn kiểu này, phải mời đủ cổ đông, mời trước ít nhất 15 ngày, bằng văn bản, và không được âm thầm bán rẻ hơn cho người ngoài.
Chào bán riêng lẻ. Khoản 1 Điều 125 đặt hai điều kiện cho công ty cổ phần không phải công ty đại chúng: không chào bán qua phương tiện thông tin đại chúng, và chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp, hoặc chỉ chào cho nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp. Điểm b khoản 2 vẫn giữ quyền ưu tiên mua của cổ đông hiện hữu theo khoản 2 Điều 124, trừ trường hợp sáp nhập, hợp nhất công ty.
Đây là phương án hay gặp khi doanh nghiệp gọi vốn từ một nhà đầu tư cụ thể. Điểm dễ bỏ sót là quyền ưu tiên của cổ đông cũ: bỏ qua bước này, nghị quyết tăng vốn có thể bị kiện.
Chào bán ra công chúng. Khoản 3 Điều 123 dẫn chiếu sang pháp luật chứng khoán, không áp dụng cơ chế của Luật Doanh nghiệp.
Các phương án tăng vốn của công ty trách nhiệm hữu hạn
Với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, khoản 1 Điều 68 chỉ cho hai cửa: tăng vốn góp của thành viên, hoặc tiếp nhận thêm vốn góp của thành viên mới.
Khoản 2 Điều 68 đặt ra một nguyên tắc dễ gây tranh chấp nếu lập phương án cẩu thả: vốn góp thêm được chia cho các thành viên theo tỷ lệ tương ứng phần vốn góp của họ. Thành viên có thể chuyển nhượng quyền góp vốn cho người khác theo Điều 52. Nếu có thành viên không góp hoặc chỉ góp một phần, số còn lại được chia cho các thành viên khác theo tỷ lệ — trừ khi các thành viên có thỏa thuận khác.
Nghĩa là phương án phải ghi rõ từng thành viên được quyền góp thêm bao nhiêu, hạn chót góp là ngày nào, và nếu ai không góp thì phần đó xử lý ra sao. Thiếu ba dòng này, tỷ lệ sở hữu sau khi tăng vốn gần như chắc chắn sẽ bị tranh cãi.
Với công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, khoản 1 Điều 87 cho phép tăng vốn qua việc chủ sở hữu góp thêm vốn hoặc huy động thêm vốn góp của người khác, và chủ sở hữu tự quyết hình thức, mức tăng. Nhưng khoản 2 kèm một hệ quả nặng: nếu tăng vốn bằng cách huy động thêm vốn góp của người khác, công ty phải chuyển sang tổ chức quản lý theo loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên hoặc công ty cổ phần. Chuyển sang mô hình hai thành viên thì phải thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp trong 10 ngày kể từ ngày hoàn thành việc thay đổi vốn; chuyển thành công ty cổ phần thì theo Điều 202.
Điểm này hay bị bỏ qua: chủ sở hữu công ty một thành viên nhận tiền của một người bạn góp vào, tưởng chỉ là tăng vốn, hóa ra đã làm thay đổi cả loại hình doanh nghiệp.
Điều kiện cốt lõi của mọi phương án: tiền phải vào thật
Đây là chỗ Công ty cổ phần T3 vấp phải. Khoản 1 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020 định nghĩa: "Vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng mệnh giá cổ phần các loại đã bán". Khoản 2 nói tiếp cổ phần đã bán là cổ phần "đã được các cổ đông thanh toán đủ cho công ty".
Khoản 4 Điều 124 nói cùng một điều theo cách khác: "Cổ phần được coi là đã bán khi được thanh toán đủ và những thông tin về người mua quy định tại khoản 2 Điều 122 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký cổ đông; kể từ thời điểm đó, người mua cổ phần trở thành cổ đông của công ty".
Hai điều kiện, không phải một: tiền vào đủ, và tên được ghi vào sổ đăng ký cổ đông. Trong vụ T3, Phòng đăng ký kinh doanh kết luận sổ đăng ký cổ đông của công ty qua các năm 2003–2021 không khớp với số vốn điều lệ đã đăng ký, tổng số cổ phần ghi trong sổ không khớp với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Cả hai điều kiện đều hỏng.
Lưu ý thêm, khoản 5 Điều 112 đã được sửa đổi bởi Luật số 76/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 — doanh nghiệp đang soạn phương án cần đối chiếu bản hợp nhất mới nhất thay vì bản 2020 nguyên gốc.
Hồ sơ và thời hạn đăng ký thay đổi vốn điều lệ
Từ ngày 01/7/2025, thủ tục đăng ký doanh nghiệp áp dụng theo Nghị định số 168/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 — nghị định này thay thế Nghị định số 01/2021/NĐ-CP. Các bài hướng dẫn còn dẫn Nghị định 01/2021 đều đã lạc hậu.
Khoản 1 Điều 44 Nghị định 168/2025/NĐ-CP liệt kê hồ sơ đăng ký thay đổi vốn điều lệ gửi tới Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính:
a) Giấy đề nghị đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp;
b) Nghị quyết hoặc quyết định của chủ sở hữu công ty (công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), của Hội đồng thành viên (công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty hợp danh), của Đại hội đồng cổ đông (công ty cổ phần) về việc thay đổi vốn điều lệ;
c) Biên bản họp Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;
d) Giấy tờ chứng minh việc góp vốn, mua cổ phần đã được thanh toán tương ứng với phần vốn điều lệ đăng ký tăng, trong trường hợp đăng ký tăng vốn;
đ) Văn bản chấp thuận của Cơ quan đăng ký đầu tư về việc góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, khi thuộc trường hợp phải làm thủ tục này theo Luật Đầu tư.
Điểm d chính là nơi phương án tăng vốn gặp thực tế. Cơ quan đăng ký kinh doanh đòi chứng từ thanh toán, không đòi lời hứa. Một bộ phiếu thu thiếu chữ ký kế toán và thủ quỹ, như trong vụ T3, không phải là chứng từ hợp lệ theo Luật Kế toán — và mười ba năm sau, đó là thứ khiến 3,3 tỷ đồng cổ phần bị tuyên không tồn tại.
Về thời hạn: khoản 4 Điều 123 buộc công ty cổ phần đăng ký thay đổi vốn điều lệ trong 10 ngày kể từ ngày hoàn thành đợt bán cổ phần. Với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, khoản 4 Điều 68 đặt thời hạn 10 ngày kể từ ngày việc tăng vốn đã được thanh toán xong, kèm theo nghị quyết, quyết định và biên bản họp Hội đồng thành viên theo khoản 5. Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật trong 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận thông báo.
Năm lỗi thường gặp khi lập phương án tăng vốn
Một, ghi vốn tăng trước khi tiền vào. Đăng ký tăng vốn rồi mới thu tiền dần là cách làm ngược. Vốn điều lệ theo khoản 1 Điều 112 là mệnh giá cổ phần đã bán, mà đã bán theo khoản 2 nghĩa là đã thanh toán đủ.
Hai, chuyển khoản nợ của công ty với cổ đông thành cổ phần mà không làm đúng thủ tục. Cấn trừ công nợ thành vốn góp không phải là việc bị cấm, nhưng phải được Đại hội đồng cổ đông quyết định trong phương án, có hồ sơ công nợ rõ ràng và hạch toán đúng. Trong vụ T3, Hội đồng xét xử tách bạch: quan hệ vay tiền giữa công ty và ông C nếu có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án dân sự khác — nó không tự biến thành cổ phần.
Ba, bỏ bước thông báo cho cổ đông hiện hữu. Thời hạn 15 ngày tại điểm a khoản 2 Điều 124 là thời hạn cứng. Hồ sơ nội bộ cần lưu bằng chứng đã gửi thông báo.
Bốn, không cập nhật sổ đăng ký cổ đông. Khoản 4 Điều 124 đặt việc ghi sổ ngang hàng với việc thanh toán. Sổ cổ đông lệch với giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là dấu hiệu đầu tiên mà cơ quan kiểm tra nhìn vào.
Năm, người ký chứng từ không đúng thẩm quyền. Phiếu thu thiếu chữ ký kế toán và thủ quỹ, người ký không được phân công — đây là lý do trực tiếp khiến ba phiếu thu trong vụ T3 bị coi là không có giá trị pháp lý.
Phương án tăng vốn đặt trong bức tranh huy động vốn
Tăng vốn điều lệ chỉ là một trong nhiều cách huy động vốn. Khác biệt căn bản: tăng vốn điều lệ làm thay đổi cơ cấu sở hữu và quyền biểu quyết, trong khi vay vốn hay phát hành trái phiếu tạo ra nghĩa vụ nợ nhưng không pha loãng cổ phần. Doanh nghiệp đang chuẩn bị mua bán doanh nghiệp hoặc đón nhà đầu tư chiến lược thường phải rà lại toàn bộ lịch sử tăng vốn trước khi vào bàn đàm phán — vì đúng loại rủi ro trong vụ T3 là thứ bên mua sẽ tìm thấy khi soát xét pháp lý.
Chi tiết về khái niệm và cách quản trị, xem thêm bài vốn điều lệ.
Đọc tiếp trong cùng chủ đề
Dịch vụ liên quan: Dịch vụ tăng vốn điều lệ — Dịch vụ định giá doanh nghiệp — về đội ngũ — liên hệ